Toggle menu

DANH MỤC SẢN PHẨM

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

Kỹ thuật HC

thanhbinh salemanager

dinh Bao Area sale manager

kế toán

Gíam đốc Sản Phẫm Đầu cáp, T plug, Elbow, straght

PHẢN ÁNH , HOT LINE

dinh bao 2

Gíam đốc Sản Phẫm Đầu cáp, T plug, Elbow, straght

Hotline:
(08) 3758 4407, 8, 9

SẢN PHẨM KHUYẾN MÃI

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Số người online   : 24

Tổng truy cập  : 742863

TIN TỨC SỰ KIỆN

CHỐNG SÉT LAN TRUYỀN SPD LÀ GÌ ?

 

Q: Thiết bị chống xung là gì?
A: Một thiết bị với ít nhất 1 thành phần phi tuyến nhằm giới hạn xung điện áp đi vào thiết bị điện bằng cách chuyển (cắt) hoặc giới hạn dòng xung, và nó có khả năng lặp lại chức năng đó như đã được thiết kế. SPDs trước đây được biết với tên thiết bị ức chế xung nhiễu điện áp (Transient Voltage Surge Suppressors – TVSS) hay thiết bị hãm xung thứ cấp. SPDs được niêm yết trong tiêu chuẩn UL 1449, hiện nay được chỉ rõ là Type 1, Type 2 hoặc Type 3 và được sử dụng trên hệ thống nguồn điện AC điện áp thấp (có điện áp dưới 1000 Vrms).
 
Q: Tại sao nhà sản xuất SPD không còn dùng thuật ngữ TVSS?
A: Thiết bị TVSS có dòng sản phẩm nhiều hơn của SPDs. Bắt đầu với tiêu chuẩn UL 1449 3rd Edition và 2008 National Electrical Code, thuật ngữ “SPD” đã chính thức thay thế thuật ngữ “TVSS” và “thiết bị hãm xung thứ cấp”. SPDs được phân loại theo Type 1, Type 2, Type 3 hoặc Type 4, chúng được lựa chọn dựa trên thiết bị được bảo vệ và vị trí lắp đặt nơi chúng được sử dụng. Với những thay đổi thuật ngữ hiện tại bởi UL và NEC, hiện nay không có tổ chức tiêu chuẩn nào sử dụng thuật ngữ TVSS, như IEEE®, IEC®, và NEMATH cũng đã sử dụng thuật ngữ “SPD” trong nhiều năm trước.
 
Q: Phân loại SPD theo tiêu chuẩn UL là gì và nó thể hiện điều gì?
A: có bốn loại
Type 1: loại SPD được UL phê duyệt cho cài đặt taị bất kỳ vị trí nào giữa tụ biến áp thứ cấp (tụ biến áp trước khi cung cấp điện vào nhà) và ngõ vào thiết bị chống quá dòng (như CB, MCB). SPDs Type 1 có thể được lắp đặt tại bất kỳ đâu trên tải của ngõ vào và trong hệ thống điện điện áp thấp mà không cần lắp thêm cầu chì chuyên dụng hoặc thiết bị ngắn mạch.
Type 2: loại SPD được UL phê duyệt cài đặt trên tải của ngõ vào thứ cấp thiết bị chống quá dòng. SPDs Type 2 có thể hoặc không cần thiết sử dụng cầu chì chuyên dụng hay thiết bị ngắn mạch.
Type 3: loại SPD được cài đặt cách bảng điện (tủ điện)  10 m hay lớn hơn. Thiết bị này thường được lắp đặt tại rốn kết nối, hay đóng vai trò như ổ cắm trực tiếp và được lắp đặt trên tải cuối thiết bị cần bảo vệ. Khoảng cách 10 m không bao gồm dây dẫn đi kèm SPD, hoặc được sử dụng để kết nối SPD với tải.
Type 4: loại SPD được phân loại là thành phần lắp đặt của SPD. Ví dụ về phạm vi SPDs Type 4 từ thành phần MOV (Metal Oxide Varistor) đến một SPD được lắp đặt gần như hoàn chỉnh chỉ thiếu vỏ bọc bên ngoài.
 
Q: Có phải chọn loại SPD Type 1 hoạt động tốt hơn loại SPD Type 2?
A: Không cần thiết. SPD Type 1 cung cấp bảo vệ linh hoạt  với khả năng kết nối với hai bên của ngõ vào nguồn điện, tuy nhiên UL không so sánh hoạt động kẹp xung của SPD Type 1 với SPD Type 2. UL kiểm tra hoạt động kẹp xung là như nhau trên tất cả các loại SPDs, không phần biệt loại SPDs. UL cũng đánh giá hoạt động an toàn của tất cả SPDs tại vị trí lắp đặt dự định của nó. Từ UL 1449 3rd Edition, SPD Type 1 được phê duyệt sẽ bao gồm những thiết bị mà trước đây được biết đến như thiết bị hãm xung thứ cấp hay TVSS. Ðiều quan trọng cần nhận biết là thiết bị hãm xung thứ cấp được thiết kế có MCOV (điện áp hoạt động liên tục cực đại – Maximum Continuous Operating Voltage) cao hơn so với thiết bị TVSS. Và trong khi chỉ số MCOV của SPD có ảnh hưởng trực tiếp lên hoạt động kẹp điện áp, thì thực tiễn để chọn SPD tốt nhất cần cân nhắc cẩn thận các chỉ số khác nữa bao gồm dòng xung cực đại, điện áp kẹp theo IEEE, VPR theo UL, và tuổi thọ thiết bị (bảo hành).
 
Q: Tại sao tôi cần cân nhắc lắp đặt thiết bị chống xung?
A: Chúng ta cần thực hiện các bước phòng ngừa để bảo vệ các thiết bị điện tử có giá trị cho dù là một máy photocopy văn phòng, máy CNC công nghiệp, hay thiết bị trong nhà. Hầu hết mọi người đều biết đến ảnh hưởng nguy hại của sét tới các thiết bị điện tử, nhưng rối loại điện áp có thể bắt nguồn từ nguồn năng lượng thấp hơn rất nhiều. Gai (Spikes) điện áp xảy ra hàng ngày khi một thiết bị như máy nén khí HVAC hoặc tải cảm ứng được đóng và ngắt. Bên cạnh đó, xung nhiễu có thể sinh ra từ sự đóng ngắt của cầu giao (CB, MCB,…) hoặc từ hoạt động của thiết bị bên trong nhà, văn phòng, .v.v. Những sự kiện này thường không gây ra kết quả tức thời có thể nhận biết được. Theo thời gian, các triệu chứng sẽ dần xuất hiện như rối loạn nhẫu nhiên, lỗi dữ liệu và làm giảm tuổi thọ mạch điện tử nhạy cảm. Lắp đặt SPDs đúng được xem là ưu tiên hàng đầu để bảo vệ các mạch điện tử nhạy cảm trong các thiết bị điện thông minh hiện nay.
 
Q: Một SPD sẽ bảo vệ thiết bị của tôi khỏi sét đánh trực tiếp?
A: Một sự gia tăng đột ngột với điện áp đỉnh cao từ một tia sét trực tiếp có thể tạo ra dòng vượt quá vài trăm nghàn ampe. SPDs không phù hợp để xử lý sét đánh trực tiếp lên một cơ sở như một thiết bị bảo vệ độc lập. Ðể bảo vệ tốt nhất sét đánh trực tiếp, bạn nên xem xét lắp đặt hệ thống chống sét theo tiêu chuẩn UL69A hoặc NFPA 780. Phần lớn xung điện áp phá hủy bên ngoài vào không phải do nguyên nhân từ sét trực tiếp. Thay vào đó là kết quả của dòng xung trên dây nguồn AC, viễn thông và những đường dây tiện ích khác được tạo ra từ điện trường mạnh do ảnh hưởng của sét đánh từ xa lên hay từ các nguồn ít nghiêm trọng hơn như sự đóng ngắt điện của Công ty điện lực, đóng ngắt các tải lớn, sự cố trên đường dây tải điện, nối đất không tốt, .v.v. Những xung này có thể lan truyền với khoảng cách rất xa trên dây dẫn kim loại tới nhà của bạn, và với năng lượng còn lại cũng đủ để phá hủy thiết bị điện tử của bạn. SPDs được chế tạo với mục đích đặc biệt là giảm thiểu các loại rối loạn điện áp.
 
Q: Một SPD sẽ bảo vệ hệ thống phân phối điện khỏi những rối loạn điện như quá áp, sụt áp hoặc sóng hài?
A: Không. Một quan niệm phổ biến về SPDs là nó được chế tạo để bảo vệ thiết bị khỏi tất cả vấn đề của nguồn điện. SPDs không được chế tạo để chống lại sự xuất hiện của điện áp quá mức tại tần số năng lượng bình thường. Chúng cũng không thể chống lại sụt áp (Sags) hoặc sóng hài. Thực tế, quá áp trong nhiều chu kỳ được biết đến như TOV hoặc sưng (Swell) điện áp, hiện tượng này có thể gây hư hỏng cho thành phần ức chế trong một SPD nếu chúng (quá áp) vượt quá điện áp hoạt động của SPD.
.....
Q: Những cạm bẫy khi so sánh giá trị điện áp kẹp giữa các nhà sản xuất SPD là gì?
A: Nhiệm vụ công khai dữ liệu so sánh giá trị điện áp kẹp (let-thru) lúc đầu được xem là một quá trình thường lệ giữa các nhà sản xuất SPD. Tuy nhiên, giá trị điện áp kẹp có thể là một trong nhiều giá trị mơ hồ của SPD. Ðể đơn giản hóa thuật ngữ, điện áp kẹp của SPD có thể được xem là điện áp lớn nhất mà SPD cho qua khi được thử nghiệm với một sóng xung. Hầu hết các nhà sản xuất SPD sẽ công bố dữ liệu điện áp kẹp trung bình cho nhiều mode bảo vệ khác nhau, và khi tham chiếu một hoặc nhiều sóng xung thử nghiệm được quy định trong tiêu chuẩn IEEE C62.41gần như tất cả họ không công bố dữ liệu này. Ðôi khi họ hướng khách hàng tin rằng IEEE C62.41 là tiêu chuẩn cung cấp phương pháp thử nghiệm đáng tin cậy với mục đích xác định chỉ số hoạt động của SPD. Thật không ay, trong trường hợp này IEEE C62.41 chỉ định nghĩa về môi trường thử nghiệm xung và song xung thử nghiệm tại nhiều vị trí khác nhau. Do sự thiếu vắng một quy chuẩn đồng bộ nên dẫn đến ngành công nghiệp SPD đã tạo ra nhiều phương pháp thử nghiệm khác nhau, mà có những phương pháp do tự nhà sản xuất SPD tạo ra và thực hiện. Ví dụ, một số nhà sản xuất SPD có thể đo giá trị điện áp kẹp trung bình tại điểm kết nối cuối của SPD, trong khi những nhà sản xuất khác lại đo tại vị trí dây dẫn cách SPD 6 inch hoặc thậm chí xa hơn. Một số khác lại bỏ đi thành phần tới hạn như cầu chì ngắn mạch. Bất kỳ một hành động nào của nhà sản xuất cũng có thể ảnh hưởng đáng kể tới kết quả thử nghiệm giá trị điện áp kẹp của SPD. Khi so sánh dữ liệu điện áp kẹp, thì tốt nhất chúng ta nên yêu cầu báo cáo chứng nhận miêu tả việc xây dựng mẫu thử nghiệm và chi tiết phương pháp thử nghiệm. Ðiều này sẽ cung cấp một sự hiểu biết tốt hơn khi so sánh hoạt động của SPD.
 
Q: Sinewave Tracking là gì?
A: Sinewave Tracking là thuật ngữ mà một số nhà sản xuất sử dụng để mô tả SPDs có mạch  điện dung với mục đích lọc EMI/RFI. Sinewave Tracking không phản ánh một sự cải tiến hay một công nghệ lọc nâng cao.
 
Q: Sự khác nhau giữa giá trị “per-mode” và “per-phase” là gì?
A: Chế độ bảo vệ mode có thể định nghĩa là một bộ phận bao gồm ít nhất một thành phần ức chế xung tải phi tuyến ở giữa bất kỳ mạch điện AC nào như Line-Neutral, Line-Ground, Line-Line hoặc Neutral-Ground. Tất cả SPD phải được thử nghiệm và đánh giá khả năng xử lý dòng xung lớn nhất trên mỗi mode vì số lượng và loại thành phần ức chế có thể rất khác hau giữa các modes. Trái ngược với mode bảo vệ, một bảo vệ phase thường được định nghĩa là tổng gộp lại các bảo vệ mode thông thường giữa L-N và L-G. Nhà sản xuất SPD quảng cáo “per phase” hay tổng giá trị bảo vệ mà không cung cấp chỉ số “per mode” là nhằm dễ dàng che giấu loại SPD được chế tạo trên nền tảng mạch ức chế không cần bằng, hoặc che giấu phương pháp tính toán mà có thể bao gồm giá trị các modes N-G hay L-L bên trong giá trị “per phase” của họ.
 
Q: Chế độ bảo vệ “All modes” trên các SPDs được hiểu như thế nào?
A: Chế độ “All modes” cũng là một thuật ngữ có thể gây nhầm lẫn cho khách hàng. Chúng ta cần phần biệt các hệ thống điện khác nhau, và chế độ bảo vệ “all modes” có rời rạc không? Phần câu hỏi này được trả lời chi tiết trong bài viết hiểu đúng về nguyên lý bảo vệ mạch.
.....
   

VIDEO CLIP

SẢN PHẨM BÁN CHẠY

NHÀ CUNG CẤP